Diễn Đàn SEO Việt Nam Sẽ hạn chế rủi ro trong cho vay tín chấp 2015 Vì sao lãi suất cho vay trả góp cao? “Mỏ vàng” lớn không thể bỏ qua nhưng hãy thận trọng Tranh cãi lãi suất vay tiêu dùng: vì đâu nên nỗi? Cần tăng cường quản lý tín dụng tiêu dùng “Nhiều yếu tố giúp đỡ tài chính tiêu dùng tại Việt Nam cất cánh” Các chiêu "gài" lúc vay tiền nhanh tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng - phân khúc chiến lược của tổ chức tín dụng bán lẻ… Theo báo cáo của công ty StoxPlus về thị trường tài chính tiêu dùng Việt Nam, tổng quy mô của thị trường tài chính tiêu dùng tới nay đạt khoảng 200 nghìn tỷ đồng - tương đương 8,88 tỷ USD, mức tăng trưởng trên 12% và chiếm 5,4% GDP. Hiện hình thức cho cho vay tien (CVTD) là sản phẩm phổ biến ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, Hầu hết những tổ chức tài chính thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (CTTC) đều có các sản phẩm cho vay tiêu dùng, từ các khoản cho vay lớn như mua nhà, mua ô-tô cho tới những khoản vay nhỏ như vay mua đồ gia dụng, điện thoại, xe máy, phục vụ những nhu cầu tiêu dùng nhỏ như khám chữa bệnh, du lịch... 1 kết quả nghiên cứu khác cho thấy, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng ở Việt Nam hiện tăng trưởng trung bình lên tới xấp xỉ 20%/năm. Ước tính, tỷ lệ vay tiêu dùng/GDP hiện đạt 6,4%, tỷ lệ tín dụng tiêu dùng/tổng tín dụng là 5,6%, tỷ lệ vay tiêu dùng/tiêu dùng cuối cùng là 7,3% và dư nợ cho vay tiền nhanh bình quân đầu ngưòi đạt xấp xỉ 1,5 triệu đồng/người. Hiện có khoảng gần 16 triệu người là k/h tiềm năng với sự thỏa mãn những điều kiện cơ bản về độ tuổi và thu nhập. Tham gia vào thị trường tín dụng tiêu dùng gồm có Đa phần các NHTM, các CTTC trong nước và 100% vốn nước ngoài. Với cơ cấu dân số trẻ, tốc độ tăng tự nhiên cao, nhiều chuyên gia dự báo thời gian tới, thị trường tài chính tiêu dùng sẽ có các bước tăng trưởng nhanh và trở thành cơ cấu tín dụng quan trọng của chiến lược ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam. bên cạnh đó, thực tiễn cho vay tiêu dùng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề và thách thức lớn ko chỉ đối với những NHTM, CTTC như quản lý thông tin k/hàng, xây dựng kênh bán hàng, quản trị rủi ro, lãi suất... mà với cả các cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là vai trò của công ty tài chính Nhà nước (NHNN) trong việc định hướng hoạt động cho vay vốn ngân hàng phát triển lành mạnh. Tại Việt Nam, khái niệm về cho vay tiền nhanh hiện chưa rõ ràng. 1 số quan điểm cho rằng những khoản cho vay này bao hàm những khoản vay có tài sản đảm bảo, chủ yếu là các khoản cho vay mua nhà, xây mới hoặc sửa chữa nhà ở, mua ô tô có quy mô lớn có khi lên đến cả chục tỷ đồng. Với các NHTM, những khoản cho vay này mới là dư nợ chủ yếu và họ thường nhắm tới những k/hàng đạt chuẩn tín dụng (có thu nhập thường niên từ khá trở lên, có điểm tín dụng cao, có lịch sử tín dụng tốt). Trong lúc đó, những CTTC lại hướng đến đối tượng k/hàng đại chúng, dưới chuẩn (có thu nhập trung bình, thấp, chưa có lịch sử tín dụng hoặc điểm tín dụng thấp, khó tiếp cận dịch vụ ngân hàng..) với những khoản vay tín dụng nhỏ, không tài sản đảm bảo, phục vụ nhu cầu mua sắm trang thiết bị gia đình, xe máy, tiền mặt phục vụ nhu cầu đột xuất… Đây là phân khúc k/hàng mà những NHTM ko hướng tới. Việc tồn tại và ghép chung vào khái niệm cho cho vay hai loại hình này đã dẫn đến các so sánh bất lợi về lãi suất cũng như trong cách đánh giá về ý nghĩa, lợi ích của hoạt động cho vay tiền nhanh, đồng thời dẫn đến những khó khăn cho cơ quan quản lý. Theo phân tích của các chuyên gia tài chính, có nhiều sự khác biệt trong nghiệp vụ cho vay tín chấp của CTTC và các NHTM. Về số tiền cho vay bình quân tính trên 1 khách hàng của các NHTM lớn hơn nhiều lần so với các CTTC. Thời hạn cho vay của những NHTM có thể lên tới 20 năm đối với các khoản vay để mua nhà ở, trong khi những CTTC cho vay tiền trả góp với thời hạn tối đa là 5 năm. các điều kiện vay tại CTTC và NHTM cũng rất khác biệt, trong đó, các NHTM thường có quy trình xét duyệt khoản vay kéo dài, thủ tục tương đối phức tạp, ngược lại CTTC chú trọng yếu tố thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của k/h. Đặc biệt, lãi suất cho vay trả góp của những CTTC cũng cao hơn rất nhiều lần so với lãi suất cho vay tín chấp của những NHTM cho khoản vay có cùng kỳ hạn. Về quản trị rủi ro, các NHTM sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để đánh giá k/hàng, tương tự các sản phẩm tín dụng khác. Còn đối với các CTTC, để phù hợp với đối tượng khách hàng đại chúng và phương thức tiếp cận đơn giản, nhanh chóng nhưng mức độ rủi ro cao, CTTC sử dụng thẻ chấm điểm tín dụng để đánh giá k/hàng cho vay. Mới đây, nhằm mục tiêu tách biệt và hạn chế rủi ro đối với công ty tài chính khi cho vay tiêu dùng đối với người dùng không đúng tiêu chuẩn, NHNN đã đưa ra Dự thảo Thông tư Quy định hoạt động tín dụng tiêu dùng của CTTC để lấy ý kiến. Theo đó hoạt động cho vay trả góp của những CTTC được thu hẹp lại còn 3 lĩnh vực: cho vay vốn ngân hàng, vay thấu chi qua thẻ tín dụng, phát hành thẻ mua hàng. Hoạt động vay phải đáp ứng những điều kiện sau: Bên cho vay thanh toán cho bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng do khách hàng mua, sử dụng; khách hàng hoàn trả tiền cho vay (bao gồm cả gốc và lãi) theo định kỳ đc quy định tại hợp đồng cho vay tiền trả góp. Hoạt động cho vay vốn ngân hàng đc thực hiện tại những điểm bán hàng, giới thiệu dịch vụ của bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Thời hạn vay không quá 05 năm, việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở hệ thống thẻ chấm điểm. Hoạt động cho vay tín dụng hoặc vay có tài sản bảo đảm là hàng hóa tiêu dùng được mua từ nguồn vốn tín dụng đc cấp. Dự thảo cũng quy định NHTM muốn cho vay không thế chấp theo hình thức này thì phải thành lập CTTC. Việc quy định một cách rõ ràng các hoạt động tín dụng được coi là cho vay tiền nhanh và tách riêng quản lý đối với hoạt động này phù hợp với những tính chất khác biệt, sẽ giúp cho thị trường cho vay tiền nhanh Việt Nam phát triển minh bạch, lành mạnh và hiệu quả hơn, phù hợp với các thông lệ quốc tế, từ đó, mang lại nhiều lợi ích cho chính người tiêu dùng Việt Nam.