Diễn Đàn SEO Việt Nam Buffett hiểu quy mô nhân viên như thê'nào là phù hợp cho doanh nghiệp và tin rằng với mỗi đô la: vìanh thu sẽ có một mức phí tổn hợp’lý. Ông đã chọn lựa Carl Reichard và Paul Hazen tại Wells Fargo để tấn. công nghiêm khắc vào nhũng phí không phải cần thiết. Ông nói: "Họ ghê tởm việc tiêu tôn phần thuê chung cư dolphin chi phí phổ biến hơn phải thiết, và tâín công chi phí ác liệt lúc lợi nhuận ở mức kỷ lục cũng như lúc dưới mức đặt ra". Coca-Cola Năm 1973, "lợi nhuận chủ có" (thu nhập ròng cùng sở hữu khâu hao rổi trừ đi phí tổn .vôh) là 152 triệu đô la. Tới năm 1980, lợi nhuận chủ với là 262 triệu đô la, bằng 8% ti lệ lớn mạnh cùng gộp hàng năm. Sau ấy, từ năm 1981 đến năm 1988, lợi nhuận chủ mang nâng cao từ 262 triệu đô la lên 828 triệu đô la, bằng 17,8% ti lệ lớn mạnh cần thuê chung cư green park cộng gộp thường niên trung bình (xem hình 7.3). Tỉ lệ tăng trưởng lợi nhuận có phản ánh trong giá cổ phiếu của Coca-Cola. Trong thời kỳ 10 năm từ năm 1973 tới năm 1982, tổng lợi nhuận của Coca-Cola nâng cao ở tỉ lệ trung bình thường niên là 6,3%. 10 năm sau, từ năm 1983 tới năm 1992, tổng lợi nhuận lớn mạnh đạt tỉ lệ trung bình hàng năm là 31,1%. Lđi nhuận biên Giống như Philip Fisher, Buffett nhận đồ vậtc thuê nhà chung cư mipec được rằng những vì.anh nghiệp to sẽ với một số vụ đầu tư tồi tệ giả sử ban quản lý không thê’ biến tại vìanh thu thành lợi nhuận. Theo phương pháp hay của ông, những nhà ở quản lý của hệ thống hoạt động chi phí cao sở hữu khuynh hướng chọn một số cậch để thường xuyên nâng cao tổng chi phí, trong lúc những nhà ở quản lý của hệ thống hoạt động phí thâp luôn luôn chọn cách cắt kém chất lượngm phí tổn.